chữa bệnh cho gia cầm, chữa bệnh cho gia súc, thuốc chữa bệnh cho chó, thuốc chữa bệnh cho gà, chữa bệnh cho vịt chữa bệnh cho ngan, chữa bệnh cho lợn, chữa bệnh cho trâu, chữa bệnh cho bò, chữa bệnh

chữa bệnh cho gia cầm, chữa bệnh cho gia súc, thuốc chữa bệnh cho chó, thuốc chữa bệnh cho gà, chữa bệnh cho vịt chữa bệnh cho ngan, chữa bệnh cho lợn, chữa bệnh cho trâu, chữa bệnh cho bò, chữa bệnh

Bệnh sán lá ruột, nguyên nhân và cách phòng bệnh

Bệnh sán lá ruột, nguyên nhân và cách phòng bệnh

Bệnh sán lá ruột, nguyên nhân và cách phòng bệnh

Nguyên nhân gây bệnh sán lá ruột: 
Là do sán lá Fasiolopsio sis buski ký sinh trong ruột non của lợn .
 
-Sán trưởng thành có hình dẹt, giống hình một chiếc lá. Kích thước 20-75 X8 -20mm . Sán có 2 giác : giác miệng và giác bụng để bám vào ruột.
 
-Sán đẻ trung bình mỗi ngày 15.000 – 48.000 trứng. Mỗi sán trưởng thành đều có cơ quan sinh dục cái (noãn hoàn) và cơ quan sinh dục đực. Nên có thể tự thụ tinh trứng : Hoặc 2 cá thể sán thụ tinh với nhau, gọi là hiện tượng lưỡng tính dị thụ tinh.
 
Trứng sán theo phân ra ngoài. Gặp điều kiện thuận lợi, nhiệt độ  18-32 độ C có nước và ánh sáng sẽ nở thành mao ấu. Mao ấu bơi lội trong nước sẽ tìm và chui vào vật chủ trung gian là các loại ốc: Planorbis Coenurus, Seg- mentina.
 
Từ lúc mao ốc và phát triển thành Metacercariae ở nước ta phải mất 45- 54 ngày. Trong ốc, mao ấu phát triển qua các giai đoạn: redi mẹ sau 9-10 ngày ,Redi con sau 13 ngày và vĩ ấu sau 25—30 ngày. Vĩ ấu sẽ chui ra khỏi gan ốc ra ngoài tự nhiên, rụng đuôi trở thành kén Metacercariae rồi Adolescaria kén bám vào cây cỏ thủy sinh.
 
Lợn ăn phải cây cỏ rau có kén sẽ nhiễm sán lá ruột .
 
Từ khi kén vào ruột lợn cho đến khi phát triển trưởng thành cần 73-91 ngày.
 
Tỉ lệ cảm nhiễm sán lá ruột phụ thuộc vào lứa tuổi:
 
+ Lợn dưới 2 tháng tuổi tỉ lệ nhiễm 16,6%
 
+ Lợn từ 3-4 tháng tuổi tỉ lệ nhiễm 45,8 %
 
+ Lợn từ 5-7 tháng tuổi tỉ lệ nhiễm 58,3%
 
+Lợn trên 8 tháng tuổi tỉ lệ nhiễm 70,8%
 
 
Biểu hiện lâm sàn bệnh sán lá ruột:
– Biểu hiện rõ nhất của lợn nhiễm sán là ruột là còi cọc . Thiếu máu , suy nhược do sán chiếm đoạt chất dinh dưỡng. Nhất là lợn con 3-4 tháng tuổi . Vẫn ăn khỏe nhưng không lớn. Tăng trọng rất thấp, gây thiệt hại về kinh tế
 
– Lợn nái nuôi con nhiễm sán lá ruột không những gầy mà còn giảm lượng sữa . Ảnh hưởng đến sinh trưởng lợn con và tỉ lệ lợn con ỉa phân trắng cao hơn ở các đàn lợn mà lợn nái không nhiễm bệnh.
 
– Sán lá ruột gây tác hại cơ giới khi di chuyển trong ruột non, tạo điều kiện cho việc nhiễm trùng thứ phát. Gây tử viêm ruột cata. Lợn ỉa chảy , phân tanh , có thể tử vong.
 
Độc tố của sán gây rồi loạn tiêu hóa ở lợn 3-4 tháng tuổi. Nên lợn con lúc ỉa táo, lúc phân lỏng gây cho lợn còi cọc và chậm lớn.
 
Mổ khám lợn bị chết, nhiễm nặng sán lá ruột thấy niêm mạc ruột non bị loét và tụ máu, viêm ruột cata. Ở những lợn đã trưởng thành 6-8 tháng thấy ruột non bị sủi lên , noãn mạc ruột dày lên do sán lá ruột bám vào và di chuyển .
 
Phương pháp chuẩn đoán chủ yếu là dùng phương pháp lắng cạn Benedek để tìm trứng trong phân
 
Phòng bệnh sán lá ruột:
 
Vệ sinh môi trường và diệt trứng sán trong phân. Quest rọn sạch sẽ hàng ngày . Định kỳ tiêu độc chuồng trại bằng nước vôi 10% , dipterex 1% để diệt mầm bệnh
 
-ủ phân nhiệt để diệt trứng sán lá ruột
 
-Diệt ốc và ký chủ trung gian. Nước vôi 5-10% sunfat đồng .
 
-Chăm sóc nuôi dưỡng lợn tốt, cho ăn rau xanh phải rửa sạch . Rau lợn được bón bằng phân trâu, nếu dùng phân lợn phải dùng phân hoai, ủ sinh nhiệt kỹ .
 
Ngoài ra sán lá ruột rất dễ nhiễm sang cho người. Nên lưu ý dùng nước sạch, hạn chế ăn uống sống

THUỐC THÚ Y