chữa bệnh cho gia cầm, chữa bệnh cho gia súc, thuốc chữa bệnh cho chó, thuốc chữa bệnh cho gà, chữa bệnh cho vịt chữa bệnh cho ngan, chữa bệnh cho lợn, chữa bệnh cho trâu, chữa bệnh cho bò, chữa bệnh

chữa bệnh cho gia cầm, chữa bệnh cho gia súc, thuốc chữa bệnh cho chó, thuốc chữa bệnh cho gà, chữa bệnh cho vịt chữa bệnh cho ngan, chữa bệnh cho lợn, chữa bệnh cho trâu, chữa bệnh cho bò, chữa bệnh

HỘI CHỨNG GIẢM ĐẺ Ở GÀ

HỘI CHỨNG GIẢM ĐẺ Ở GÀ

HỘI CHỨNG GIẢM ĐẺ Ở GÀ

1. Nguyên nhân
 
Là bệnh truyền nhiễm do adenovirus gây ra. Đây là virus có nhân AND sợi đôi thuộc họ Adenoviridae.
 
2. Đối tượng mẫn cảm và phương thức lây lan
 
Bệnh xảy ra ở gà đẻ thương phẩm và gà giống trong giai đoạn từ 26­ - 35 tuần tuổi (giai đoạn khai thác trứng). Gà đẻ trứng nâu thường nhạy cảm hơn.
 
Lây truyền dọc: Bệnh lây truyền từ đàn bố mẹ sang đàn con thông qua trứng nhiễm bệnh (trứng bất thường).
 
Lây truyền ngang: Hội chứng giảm đẻ lây lan từ đàn gà bệnh sang đàn gà khỏe thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc lây lan gián tiếp qua thức ăn, dụng cụ chăn nuôi (máng ăn, uống...), phương tiện vận chuyển đã bị nhiễm
 
khuẩn từ phân và các chất bài tiết khác của đàn gà bệnh.
 
3. Triệu chứng
 
Bệnh thường kéo dài khoảng 6­12 tuần với các triệu chứng điển hình như:
 
Tỉ lệ đẻ trứng ở đàn gà giảm đột ngột từ 20­40%, có khi lên đến 50%;
 
Trứng đẻ ra có kích thước nhỏ; nhạt màu; vỏ lụa, vỏ mỏng hoặc không có vỏ; hình dạng nhăn nheo, méo mó
 
Lòng trắng loãng;
 
Tỷ lệ ấp nở giảm;
 
Gà bệnh vẫn ăn uống bình thường, có khi bị tiêu chảy nhất thời, mào gà có màu nhợt nhạt (từ 10­70% trường hợp). Nhìn chung sức khỏe gà không thay đổi nhiều so với trước và bề ngoài của xác gà chết nghi mắc
 
Hội chứng giảm đẻ không có bệnh tích điển hình. Tuy nhiên, khi mổ khám, ta thường thấy những biến đổi như sau:
 
+ Buồng trứng và ống dẫn trứng bị teo nhỏ;
 
+ Đôi khi tử cung bị viêm, phù thũng;
 
+ Trứng non không phát triển
 
4. Chẩn đoán phân biệt
 
Hội chứng giảm đẻ ở gà rất dễ nhầm lẫn với bệnh viêm phế quản truyền nhiễm và rối loạn hấp thu canxi.
 
Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm được phân biệt với Hội chứng giảm đẻ nhờ các triệu chứng đặc trưng như: gà bệnh hay hắt hơi, thở khò khè, kém ăn, chậm lớn, lông cánh xơ xác; mổ khám thì có thể thấy sung huyết xuất huyết đường hô hấp trên và tích tụ urat trong ống thận làm thận sưng và có màu trắng.
 
Chứng rối loạn hấp thu canxi ở gà được phân biệt với Hội chứng giảm đẻ bằng các bệnh tích đặc trưng như:
 
+ Xương ống chân mềm và xốp, dễ gẫy
 
+ Xương ức (ngực) bị vặn vẹo
 
+ Xương sườn có những nốt u do sưng khớp giữa phần xương và phần sụn
 
 
5. Phòng trị bệnh
 
Hiện nay, đối với Hội chứng giảm đẻ ở gà, người ta vẫn chưa tìm ra thuốc đặc trị. Vì vậy, phòng bệnh vẫn là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ đàn gà đẻ tránh khỏi nguy cơ mắc bệnh.
 
Trong công tác phòng bệnh, cần nghiêm túc thực hiện các bước sau:
 
Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ, và phun thuốc sát trùng định kỳ 2 lần/tuần để tiêu diệt mầm bệnh trong môi trường.
 
Tiêm phòng cho đàn gà đẻ khi chúng đạt 15­16 tuần tuổi. Hiện nay trên thị trường có các loại vacxin đơn giá phòng Hội chứng giảm đẻ riêng, cũng như vacxin đa giá phòng 3 bệnh Newcastle (ND), viêm phế quản truyền nhiễm (IB) và hội chứng giảm đẻ (EDS).
 
Bổ sung vitamin, khoáng, men tiêu hóa trong thức ăn hoặc nước uống vào những thời điểm nhạy cảm như stress, thời tiết thay đổi và giai đoạn gà đẻ đỉnh cao để tăng sức kháng bệnh, duy trì sức khỏe và khả năng sản xuất trứng cho gà.
 
 

THUỐC THÚ Y